Showing posts with label Jesuits. Show all posts
Showing posts with label Jesuits. Show all posts

Tuesday, August 4, 2015

St. Peter Faber (1506–1546) : Feast Day Aug 2nd

St. Peter Faber
In his famous interview in America magazine, Pope Francis was asked to name his favorite saints. Surprisingly, he focused on Peter Faber, a roommate with Francis Xavier and Ignatius Loyola at the University of Paris, long revered as one of the cofounders of the Society of Jesus, though not yet canonized. In explanation for this choice, the pope mentioned Faber’s “dialogue with all, even the most remote and even with his opponents; his simple piety, a certain naiveté. perhaps, his being available straightaway, his careful interior discernment, the fact that he was a man capable of great and strong decisions, but also capable of being gentle and loving.”
    Faber, who was born to a peasant family in the French Alps, was the first among Ignatius’s companions to be ordained a priest. While Francis Xavier undertook a great missionary expedition to Asia, Faber concentrated on Europe, then in the throes of the Reformation. Rather than answer the Protestants with debates, Faber believed the Church should concentrate on its own internal reform. To this end he crisscrossed the continent on foot, promoting spiritual renewal among the clergy and winning many new vocations for the Jesuits. He was on his way to serve as a theologian at the Council of Trent when he collapsed in Rome and died on August 2, 1546.
    Though beatified in 1872, Faber was never canonized— until 2013, when Pope Francis exercised the process of “equivalent canonization” to declare him a saint.

“Take care, take care, never to close your heart to anyone.”
—St. Peter Faber


Robert Ellsberg

Sunday, April 29, 2012

Fr General appeals to youth

The Superior General of the Jesuits, Fr Adolfo Nicolás, has identified the nurturing and formation of young people as a central concern for the Society of Jesus in the 21st century.

Speaking at a gathering of Jesuits and their religious and lay colleagues and supporters at St Ignatius’ College, Riverview, in Sydney last week, Fr Nicolás said there was a strong need for a deep and ongoing investment in youth, especially with regard to their education.

‘We cannot build our societies unless we respect and honour the young people in our midst. They are the ones with the imagination, the energy, the desire to change things’, he said.

Fr Nicolás said this concern for the formation of young people was shared by Jesuits around the world, and that the ongoing accompaniment of the youth as they progressed into adulthood was needed now more than ever. While young people were honest, direct and willing to ask tough questions, they were finding it increasingly difficult to make decisions, he said.

‘How do we accompany them after graduation and into adulthood? This is an area where we have room for reflection. The aim of St Ignatius was that we would be internally transformed. If our education does not contribute to transformation then something very important is missing from our schools.’

Read more ...

Wednesday, March 7, 2012

Vào Đời Tìm Chúa Kitô

Chào cả nhà,

Vậy là chương trình năm ba cho mục vụ truyền giáo của em đã gần xong. Tạ ơn Chúa, cám ơn các bác luôn đồng hành cùng em trong lời cầu nguyện. Hy vọng tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa luôn ở mãi trong mỗi người chúng ta nhất là trong mùa chay này.

Sau khi đi mục vụ cho bà con nghèo về, em có viết lại một suy tư nho nhỏ. Xin gửi mọi người đọc cho vui và sau đó là thêm lời cầu nguyện cho những mảnh đời bất hạnh mà chúng ta vẫn gặp mỗi ngày.

Một lần nữa, chào cả nhà. Chúc mọi người vui và bình an trong Chúa nha.

Fr. Trần Minh Quân, S.J.

+ + +

Chắc bạn cũng đồng ý với tôi là cuộc sống của chúng ta hôm nay xem ra rất quay cuồng vội vã. Niềm tin và thực tế dường như không cùng bước đi trong một vũ điệu. Ta có thể thấy Chúa trong lời kinh và tiếng hát, nhưng tìm ra khuôn mặt của Người giữa chợ đời bon chen thì chẳng dễ chút nào. Bởi đó bài hát sinh hoạt thuở còn bé “Vào Đời Tìm Chúa KiTô” đã hơn một lần khiến lòng tôi chùng lại: “Với gói hành trang tôi vào đời tìm Chúa Kitô. Với gói hành trang tôi lang thang tìm con Thiên Chúa. Hai ngàn năm đã qua đi rồi, giờ này Người ở đâu? Giờ này Người ở đâu trong rạp hát hay trong phòng trà, trong thương xá hay đêm màu hồng? Người ở đâu cho hồn tôi chơi vơi giữa chợ đời hôm nay?” Thật gần gũi, thật dễ thương, nhưng cũng rất thách đố, phải không bạn? . . .

Một phần mục vụ trong chương trình năm ba của các tu sĩ Dòng Tên tại Phi Luật Tân là đi tìm bóng hình của Thiên Chúa trong cuộc sống. Có người chọn cách tìm Chúa trong môi trường giáo dục. Có người đi vào vùng sâu vùng xa nơi cỏ dại mọc quá đầu người và thú hoang lởn vởn quanh nhà như thể giữa chốn không người. Lại cũng có anh đi tìm Chúa giữa những mảnh đời bất hạnh. Tôi thuộc vào nhóm thứ ba này. Sau thánh lễ sai đi của cha linh hướng, tôi vác gói hành trang lên đường tìm đến Tondo, một trong những vùng nghèo nhất nước Phi. Chẳng những nghèo mà nó còn nổt tiếng với hàng triệu tấn rác từ khắp nơi đổ về. Và tất nhiên, vòng quanh những núi rác khổng lồ đó là gần một trăm ngàn con người ngày đêm cắm mặt tìm kế sinh nhai. Đường từ Quezon City về Tondo không xa, nhưng các khu nhà ổ chuột xấu xí ẩn nấp đằng sau những tòa nhà to lớn ngạo nghễ đã khiến tôi phải tự hỏi: “Vâng lạy Chúa, giờ này Người ở đâu giữa những tấm lưng trần nhễ nhại mồ hôi và những khuôn mặt đen đủi nhếch nhác vì cuộc sống?”


Missionaries of Charity – điểm dừng chân thứ nhất:

            Theo sự sắp xếp của Cha Roger, tôi sẽ đến làm việc tại một trung tâm nuôi dưỡng người già và khuyết tật bị bỏ rơi do các sơ dòng Mẹ Teresa chăm sóc. Trung tâm không lớn lắm nhưng cũng cưu mang tới trên 80 con người. Công việc thường nhật của tôi là thay và trải lại những tấm drap giường vào mỗi sáng, giúp một số bệnh nhân tắm rửa, cho họ ăn trong ngày, cắt móng tay, chăm sóc các vết thương, cho uống thuốc, lắng nghe tâm sự và nỗi buồn của họ, làm lễ, xức dầu, giải tội, làm phép xác, và dạy học cho gần 50 em học sinh nghèo sống quanh trung tâm. 

            Tôi còn nhớ mãi ánh mắt xa vắng của một bà cụ trên 70 tuổi. Thập cổ lai hy, trải đời đã khá nhiều nhưng đến lúc về già lại phải tức tưởi với tâm tình: “Tôi rất cô đơn cha ơi. Chẳng còn họ hàng nào muốn chấp nhận tôi nữa rồi.” Cuộc sống đẩy đưa, bà dành những chuỗi ngày của tuổi trẻ trong công việc làm vú em cho một gia đình giàu có tại Manila. Giật mình nhìn lại, xuân thì đã đi vào dĩ vãng và bởi đó đành chấp nhận cảnh làm gái chẳng chồng cũng không con. Rồi tuổi già ập đến, gia chủ thấy bà chẳng còn làm được việc như xưa nên cho bà ra đi. Bà lặng lẽ xách bị về ở với đứa cháu ruột. Được đúng một ngày, thằng cháu nghèo đã phải mời bà ra khỏi nhà anh trong nước mắt: “Dì ơi, nhà cháu cũng có tới bảy miệng ăn. Làm tối ngày cũng không đủ sống. Giờ thêm dì về nữa là chết cháu rồi. Thôi dì ráng ra ở dưới gầm cầu Katipunan may ra có ai thương tình cho dì thức ăn hay tiền bạc để dì sống những chuỗi ngày còn lại.” Bà đã sống dưới gầm cầu ấy cả năm cho đến khi các sơ đưa về trung tâm. Trách ai bây giờ nhỉ, ông trời, xã hội, cá nhân bà cụ, hay thằng cháu kém yêu thương?

            Tôi cũng chẳng quên được những dòng nước mắt ngắn dài của người mẹ trung niên cụt chân. Chồng bà bỏ đi khi ba đứa con hãy còn chập chững. Sống trong lây lất với chúng được vài tháng thì bà nhận ra một thực tế phũ phàng: bà không có cách nào lo nổi cho chúng nữa và bởi thế bà buộc phải đem chúng về quê quẳng cho một gia đình phú nông hiếm muộn rồi trở lại Manila kiếm sống với những mong sẽ có lúc để dành đủ tiền chuộc lại con. Thời gian phi đi như vũ bão. Tiền không thấy chỉ thấy toàn bệnh tật và năm tháng chồng chất. Các con bà nay tán loạn mỗi đứa một nơi. Bà chẳng còn biết phương nào mà tìm. “Có những đêm gối tôi ướt sũng vì buồn cha ạ. Tôi quay quắt mơ được nhìn thấy chúng dù chỉ một lần trước khi nhắm mắt. Nhưng cả khuôn mặt của chúng tôi cũng không hình dung ra. Tôi đã bỏ chúng ra đi đến hai mươi mấy năm trời. Thằng lớn năm nay đã ngoài 30, con giữa 28 và thằng út cũng 25 rồi còn gì. Giờ này chúng ở đâu, đang làm gì và khi gặp tôi chúng có nhận ra hay thấu hiểu và tha thứ cho mẹ của chúng?” Nói đến đó, bà ôm mặt tức tưởi.

            Rồi ánh mắt vô hồn của một cậu bé tâm thần bên gốc cây trong trung tâm cũng làm tôi ái ngại. Gia đình em quá nghèo nên việc chữa trị cho em là chuyện không tưởng đối với họ. Một ngày họ thuê xe chở em đến một khu chợ xa và bỏ em ở lại. Và đó là lý do em trở thành một thành viên mới của trung tâm. Có những chiều tôi đến bên cạnh em ngồi và chăm sóc những vết thương còn sót lại trên thân thể của nó. Vẫn ánh mắt vô hồn nhưng đôi môi của nó bắt đầu nở ra những nụ cười. Theo thời gian, nó bắt đầu gắn bó với tôi và hôm từ biệt trung tâm, nó đã làm chính tôi và các sơ ngỡ ngàng. Trong hàng nước mắt, nó ôm chặt tay tôi rồi nói: “Cha đừng đi.” Và đấy là câu nói đầu tiên tôi nghe được sau mấy tuần sống với nó.

            Vâng tôi đã đi vào dòng đời của những con người đó và bóng hình của Đức Kitô vẫn còn chưa rõ nét. Thế nên ngay chính cá nhân mình khi đêm về tôi cứ phải vắt tay lên trán và tự vấn: “Giêsu ơi, giờ này Người ở đâu?”

Thursday, September 16, 2010

Choosing Christ


I choose to breathe the Breath of Christ
that makes all life holy.
I choose to live the flesh of Christ
that outlasts sin’s corrosion and decay.
I choose the Blood of Christ
along my veins and in my heart
that dizzies me with joy.
I choose the living waters flowing from His side
to wash and clean my own self and the world itself.
I choose the awful agony of Christ
to charge my senseless sorrows with meaning
and to make my pain pregnant with power.

I choose You, good Jesus, You know.
I choose You,
Good Lord;
count me among the victories
that You have won in bitter woundedness.
Never number me among those alien to You.
Make me safe from all that seeks to destroy me.
Summon me when I come to close my eyes in death.
Summon me to come to You.
Stand me solid among angels and saints
chanting yes to all You have done,
exulting in all You mean to do
forever and ever.

Then for this time, Father of all,
keep me, from the core of my self,
choosing Christ in the world.
Amen.




Joseph Tetlow, SJ

Tuesday, August 31, 2010

MAGIS trong Nhận Định Cộng Đoàn


Mùa Chay năm 1539, thánh I-Nhã và các bạn họp nhau tại Rôma để suy nghĩ về tương lai. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất cả nhóm 10 cha đầu tiên sống chung với nhau. Đoàn Giêsu đã có qúa trình gần 5 năm: liên kết với nhau nhờ Linh Thao, tình bạn gắn bó, chia sẻ lý tưởng tông đồ. Gần đây, Đức Thánh Cha cử các bạn đi hoạt động tông đồ, người chỗ này, người chỗ khác. Đoàn Giêsu đứng trước nguy cơ tan rã. Hai vấn đề được nêu lên: (1) Đoàn Giêsu nên hợp hay tan? (2) Nếu muốn hợp thì phải làm gì?

Câu hỏi thứ nhất được giải quyết khá dễ dàng và nhanh chóng : cần duy trì và củng cố Đoàn Giêsu, vì Đoàn do Thiên Chúa đã liên kết.

Câu hỏi thứ hai phức tạp hơn nhiều. Tất cả gia tăng cầu nguyện và hãm mình để xin Chúa soi sáng. Có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng cuối cùng, vấn đề được nêu lên rõ ràng hơn: muốn duy trì và củng cố Đoàn Giêsu, có lẽ tốt nhất là mọi người khấn tuân phục một người do Đoàn bầu lên làm bề trên. Tất cả mau chóng đồng ý là không có lời khấn tuân phục thì khó lòng duy trì được Đoàn Giêsu. Nhưng nếu khấn tuân phục?

Từ gần 5 năm, các bạn đã sống với nhau mà không ai là bề trên, không ai phải tuân phục, mọi sự vẫn tốt đẹp. Biết đâu khi có lời khấn tuân phục, tình bạn tự do vốn rất đẹp sẽ biến mất, và Đoàn Giêsu trở thành một tổ chức gò bó!

Đoàn Giêsu đã khấn thanh bần và khiết tịnh, nếu thêm lời khấn tuân phục, Đoàn sẽ biến thành một dòng tu. Nếu Đoàn trở thành một dòng tu thì sao? (1) Lúc ấy các dòng tu đang suy thoái, nên "trở thành một dòng tu" có nghĩa là sẽ không ai muốn gia nhập Đoàn, và dân chúng cũng không qúi mến Đoàn, nên Đoàn sẽ không thâu lượm được hoa trái tông đồ; (2)Nếu biến thành dòng tu, Đoàn Giêsu sẽ phải theo qui chế chung của các dòng tu trong Hội Thánh, hoặc là sẽ bị Tòa Thánh ghép vào một dòng tu có sẵn, nghĩa là sẽ phải giam mình trong các tu viện, phải mặc áo dòng, phải họp nhau hát kinh thần vụ, phải làm việc hãm mình đền tội: thế là lý tưởng phục vụ Đức Kitô bằng việc giúp đỡ các linh hồn tiêu tan.

Sau gần một tháng cầu nguyện và nhận định cộng đoàn, cuối cùng Đoàn Giêsu đi đến quyết định khấn tuân phục. Ba lý do chính được nêu lên là: (1) thi hành thánh ý Thiên Chúa hơn; (2) liên kết với nhau chặt chẽ và bền vững hơn; (3) anh em được chăm sóc chu đáo hơn. Chúng ta nên để ý đến ba chữ hơn: không khấn tuyên phục cũng được, nhưng khấn tuân phục thì hơn.

* * *

Dẫn Nhập, Những Bước Đường Theo Chúa,
Hoàng Sóc Sơn - Hiển Linh 2002

Monday, August 2, 2010

Aug. 2 Memorial: Blessed Peter Faber, S.J.



I beg you, O Lord,
to remove anything which separates
me from you, or you from me.
Remove anything that makes me unworthy
of your sight, your control,
your reprehension;
of your speech and conversation,
of your benevolence and love.
Cast from me every evil
that stands in the way of my seeing you,
hearing, tasting, savoring, and touching you,
fearing and being mindful of you;
knowing, trusting, loving,
and possessing you;
being conscious of your presence
and, as far as may be, enjoying you.
This is what I ask for myself
and earnestly desire from you. Amen.

Tuesday, July 27, 2010

Fr. Tri Dinh: A "Cura Personalis" Priest


Oh taanks,” says Father Tri – a common way that he signs his email responses. Beneath this spirit of humble, joyful simplicity lies a life of service that can be described as anything but “common.” You’ll find here someone who is deeply rooted in his vocation – having just celebrated 10 years as a Jesuit priest – and is continually convicted of His love for God, and God’s unconditional love for him. Meeting Father Tri may seem like meeting anyone else at first though – he is fun-loving, likes to poke fun, and just finds joy everywhere. There is no sense of intimidation or being “too holy” as society may view religious figures today. Father Tri seems to “get” people right away – in his draw to connect and build relationships, he is able to bring larger ideas around faith and religion to a much more personal level.

It is from this foundation that his gifts truly shine light to others, as they journey to discover their own sense of light and calling in life. Elena Mireles, a young adult who, as a student, formerly worked with Father Tri in campus ministry at Loyola Marymount University in Los Angeles, describes her service with him as a time filled with life and grace

Fr Pedro Arrupe’s Vocation Story


Some weeks after the death of my father, I had gone to Lourdes with my family since we wished to spend the summer in quiet, peaceful, and spiritual surroundings. It was the middle of August. I stayed at Lourdes for a whole month. As a medical student, I was able to obtain special permission to study closely the sick who came seeking a cure.

One day I was in the esplanade with my sisters, a short time before the procession of the Blessed Sacrament. A wheelchair pushed by a middle-aged woman passed in front of us. One of my sisters said, “Look at that poor boy in the wheelchair.” He was a young man of around 20, all twisted and contorted by polio. His mother was reciting the rosary in a loud voice, and from time to time she would say with a sigh, “Maria Santissima, help us.” It was a truly moving sight, and it brought to mind the plea the sick man in the Gospels spoke to Jesus: “Lord, cleanse me from this leprosy!” The mother hastened to take her place in the row the bishop was to pass carrying the Blessed Sacrament in a monstrance.

The moment came when the crippled young man was to be blest with the Host by the bishop. He looked up at the monstrance with the same faith that the paralytic mentioned in the Gospels must have looked upon Jesus. After the bishop had made the sign of the cross with the Blessed Sacrament, the young man rose from the wheelchair, cured, as the crowd, filled with joy, cried out, “Miracle! Miracle!”

Thanks to the special permission I had, I was later able to assist at the medical examinations of the young man. The Lord had truly cured him. There is no need to tell you what I felt and thought at that moment. I had come from the Faculty of Medicine in Madrid where I discovered so many professors (some truly renowned) and so many companions who had no faith and who always ridiculed miracles. At Lourdes, I had been an eyewitness of a true miracle worked by Jesus Christ in the Eucharist, by that same Jesus Christ who had, during the course of His life, cured so many who were ill and paralytic.

I was filled with an immense joy. I seemed to be standing by the side of Jesus; and, as I sensed His almighty power, the world that stood around me began to appear very, very small.

I returned to Madrid. My books fell from my hands. The lessons, the experiments which had so thrilled me before, now seemed so very empty. My companions asked me, “What’s happening with you this year? You are like one who has been stunned!” Yes, I was like one stunned by that experience, which every day grew more disconcerting. The one thing that remained fixed in my mind and in my heart was the image of the Host as it was raised up in benediction, and of the paralyzed boy who had leapt from his wheelchair. Three months later, I entered the novitiate of the Society of Jesus at Loyola.

Pedro Arrupe, SJ – A Priest Forever. Loyola University Press, 1986.